Mahatma Gandhi và Nguyên lý Chấp Trì Chân Lý (phần 2)

Phần 2: Những năm tháng TRẢI NGHIỆM ở nước Anh

Năm 18 tuối, Gandhi rời Bombay tới Luân Đôn, thủ Đô nước Anh, tất nhiên là bằng đường tàu biển. Trong quá trình trên tàu, ông không bị say sóng. Ông vẫn ngại giao thiệp, mặc dù ông có thể trò chuyện bằng tiếng Anh. Ông giải thích là do ông nhút nhát, ông không dám nói chuyện với ai cả. Một hành khách trên tàu đến chủ động bắt chuyện với ông. Hành khách này nói ở Anh rất lạnh, và người ta không thể sống mà không ăn thịt. Và Gandhi đã nói lại rằng: “Nhưng tôi nghe nói người ta có thể sống mà không ăn thịt.”Câu chuyện đã khiến Gandhi mạnh bạo hơn và cương quyết trả lời hơn về sự không ăn thịt của mình. Gandhi đã nói với ông khách này rằng ông đã hứa với mẹ là không đụng đến thịt, vì đã hứa nên ông không còn nghĩ đến thịt. Ông nói nếu thật sự không thể sống không có thịt, thì ông thà trở về Ấn Độ còn hơn phải ăn thịt để có thể ở lại nước Anh.

Giấy chứng nhận đã kiêng thịt

Khi lên đất liền, ông được khuyên lấy giấy chứng nhận là đã kiêng thịt. Ông đã làm theo. Ông hỏi xin một anh bạn người Anh. Ông thấy nhiều người có giấy chứng nhận kiêng thịt cho dù vẫn ăn thịt. Vì vậy ông không thể tín nhiệm tờ giấy. Ông cho rằng nếu lời nói mà không được tin cậy thì tờ giấy chứng nhận cũng vô nghĩa mà thôi. Ông lạc vào thế tiến thoái lưỡng nan vì ông chưa tìm được chỗ ăn chay. Ông nhớ nhà, nhớ gia đình nhưng ông không thể trở về Ấn Độ được. Dù sao đi nữa, ông phải ở lại Anh ba năm để học vì ông đến Anh quốc để học cơ mà.

Tìm kiếm chỗ ăn chay và bắt đầu những THỬ NGHIỆM

Thời gian đầu khi mới sang Anh, ông ăn các loại kẹo và gia vị ở bên nhà gửi sang. Ông nghĩ rằng con người ta ăn để mà sống chứ đâu phải để hưởng thụ. Và ông đã quyết định chấm dứt việc ăn kẹo và gia vị. Ông cảm thấy tâm trí ông chuyển biến, các gia vị không còn kích thích ông nữa, mà thay vào đó là các món luộc không gia vị. Ông nhận định rằng cơ sở chính của vị giác không phải là cái lưỡi mà là trí óc. Ông đã gia nhập một Hội ăn chay ở Luân Đôn, đặt mua tạp chí của Hội. Một thời gian sau đó, ông là ủy viên của Ban Chấp Hành Hội Ăn Chay này.

Ba định nghĩa về THỊT

Ông dần từ bỏ cà phê, trà sang ca cao  vì tin rằng người ta chỉ nên ăn những gì nuôi sống cơ thể. Ông đã thử nghiệm ăn nhiều kiểu khác nhau. Lúc thì ông ăn bánh mì với trái cây. Lúc thì ông ăn sữa, trứng và pho-mát. Mỗi cuộc thử nghiệm kéo dài chưa tới hai tuần. Ông lập luận rằng ăn trứng thì không làm hại gì đến các sinh vật đang sống. Vì thế mà ông ăn trứng mà không có chút áy náy gì. Một vài tuần sau đó, ông nghĩ lại. Ông đã theo định nghĩa của mẹ ông là trứng cũng là thịt. Và ông đã theo định nghĩa này của bà mẹ. Ông từ bỏ cả việc ăn trứng.

Ở nước Anh lúc đó, ông thấy có ba định nghĩa về thịt. Định nghĩa thứ nhất thì cho rằng thịt chỉ là thịt của chim chóc và thú vật. Định nghĩa thứ hai thì cho rằng thịt có nghĩa là thịt của tất cả các động vật sống, kể cả cá, nhưng không kể trứng. Định nghĩa thứ ba thì nói thịt bao gồm tất cả thịt của động vật sống, các sản phẩm của chúng, tức cả trứng và sữa. Ông đã tin rằng định nghĩa thứ ba này trùng với định nghĩa cua mẹ ông. Theo định nghĩa này,  ông đã phải từ bỏ thêm cả một số món nữa, trong đó có bánh Pu-đinh và bánh ngọt vì có dùng trứng. Ban đầu ông cảm thấy cũng hơi khó chịu nhưng dần rồi cũng quen. Sự thuân thủ nghiêm nhặt lời thề này đã đem lại cho ông một sự thoải mái về nội tâm, sự rõ ràng và lành mạnh. Ông có một nhận xét về sự tuân thủ những lời thề này hết sức tinh tế. Ông cho rằng mọi diễn giải những  lời cam kết luôn luôn là nguồn gốc phong phú cho những xung đột trên toàn thế giới vì lời cam kết cho dù có rõ ràng đến đâu thì người ta cũng vẫn cứ ra sức vặn vẹo nội dung cho phù hợp với mục đích riêng tư. Điều này thật là dễ hiểu bởi con người ta vốn dĩ ích kỷ và thích lừa dối bản thân mình. Ông cho rằng một luật vàng là hãy chấp nhận lời diễn giải chân thành của bên đưa ra lời cam kết, hay hãy chấp nhận diễn giải của bên yếu hơn. Đó là lý do ông cho rằng định nghĩa về thịt của mẹ ông là đúng nhất, và ông không còn biện minh gì thêm nữa. Cho dù rằng, những người bạn của ông ra sức đả phá rằng về giá trị của người mẹ mù chữ và không hiểu gì về hoàn cảnh ở nước Anh chẳng là gì cả. Và Gandhdi đã kiên trì tuân thủ cam kết như vậy. Ông nói LỜI THỀ LÀ LỜI THỀ. KHÔNG THỂ PHÁ VỠ.

Gandhi đã bỏ ra một si-linh để mua cuốn Lời biện hộ cho việc ăn chay của  tác giả Salt. Ông đã có đủ lý do để ăn chay một cách tự nguyện và hoan hỷ. Việc ăn chay đã trở thành một sứ mệnh đối với ông.

Và cuộc nghiên cứu thử nghiệm về dinh dưỡng bắt đầu.

Gandhi tìm hiểu nhiều hơn trong những cuốn sách ăn chay. Một trong những cuốn ông thấy tâm đắc nhất là Đạo đức của việc ăn kiêng của tác giả William Howard. Cuốn sách này đã giải thích rằng những vị hiền triết Hy Lạp như Pytago và Do Thái như Jesus đã ăn chay như thế nào. Và cuốn Con đường hoàn chỉnh trong ăn kiêng của bác sĩ Anna Kingsford đã làm ông cảm thấy phấn chấn và ra sức thử nghiệm ăn chay dựa trên khía cạnh sức khỏe. Bạn bè ông thì không ngừng lo lắng cho ông. Rồi ông tiếp tục công cuộc thử nghiệm mới.

Tập làm Nhà quý tộc

Gandhi đăng ký lớp học nhảy đầm, và lớp học đàn vĩ cầm. Rồi ông tìm một ông thầy dạy hùng biện, nói năng. Sự háo hức này kéo dài khoảng 3 tháng, rồi ông từ bỏ, có thể vì ông học không tiến bộ hay không có khiếu về những môn này. Gandhi thì cho rằng đó là thời kỳ mê muội. Ông xác định lại việc ông đến Anh là để học Luật nên cần phải giữ đúng mục đích này. Ông tiết kiệm mọi khoản chi tiêu có thể, nhất là về khoản tàu xe đi lại. Ông đã quyết định tìm chỗ trọ mới để hàng ngày đi bộ được.Ông đăng ký học tiếng Pháp và La tinh để chuẩn bị nhập học Đại học Luân Đôn với một quyết tâm là cho dù thế nào nữa cũng phải học được. Nhưng dù vậy, ông cũng không thể vượt qua được môn La -tinh.

Sự nhút nhát chốn đông người

Khi được đề cử phát biểu, Gandhi thường ấp úng và không thể nói nên lời. Đó là trải nghiệm không thể dễ dàng gì. Bây giờ thì chúng ta có thể hiểu được là một chứng tâm lý nhút nhát vô thức ta thường gặp ở các nước phương Đông. Ông đã tìm hiểu các tôn giáo, về Thông thần học. Ông đọc cả về Kinh thánh. Ông đọc cả Kinh Cựu Ước và Tân Ước. Đọc những chương về Sách Sáng Thế, ông cảm thấy buồn ngủ nhưng đọc đến Bài giảng trên núi của Kinh Tân Uớc, ông cảm thấy cực kỳ ấn tượng. Qủa là ấn tượng vì chưa từng có ai nói như vậy. Như là nếu ai đó tát ngươi vào má phải thì hãy giơ cả má trái để cho họ tát nữa. Đó là những điều mới mẻ mà ông thấy.  Năm 1890, ông sang Paris tham dự một triển lãm. Ông cảm thấy sự phù phiếm và thời thượng của Paris. Ông ở Paris 7 ngày, trước khi trở về Luân Đôn để tham dự kỳ thi chứng nhận trở thành Luật sư. Ông trải qua nhiều kỳ thi khác nhau và ông đọc nhiều về Luật La Mã bằng tiếng La tinh. Rồi ông thi qua môn Thông Luật, và đọc nhiều cuốn sách của những tác giả đương đại. Ngày 10 tháng 6 năm 1891, ông được công nhận là Luật sư. Hai ngày sau đó, ông trở về nước, kết thúc ba năm ở Anh quốc với nhiều trải nghiệm mà ông coi đó là hạt giống đầu tiên. Mặc dù được học bài bản như vậy nhưng Gandhi chưa bao giờ cảm thấy đủ khả năng để hành nghề luật. Nhưng thực sự những gì ông học được ở nước Anh có đem lại giá trị ích lợi cho cuộc đời của ông sau này hay không? Chỉ biết rằng thử nghiệm ăn chay của ông rất là ích lợi khi sau này ông dùng nó làm phương tiện để tranh đấu với thực dân Anh.

 

(Còn tiếp)

Nguồn ảnh: Pinters.com, Gandhi năm 19 tuổi lúc ở Anh quốc.

@Fishbonevn

 

 

Comments

comments

Powered by Facebook Comments

Related posts