Mahatma Gandhi và Nguyên lý Chấp Trì Chân Lý (Phần 1)

Phần 1: Thời niên thiếu ở Ấn Độ

Mahatatma Gandhi có tên đầy đủ khá dài là Mohandas Karamchand Gandhi. Ông sinh năm 1869, tại bang Gujarat, Ấn Độ trong dòng họ Gandhi,  tất nhiên rồi. Mà dòng họ Gandhi thời bấy giờ thuộc giai tầng Bania trong đẳng cấp Vaishya, đẳng cấp này chủ yếu gồm những người buôn bán và hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

Theo ông kể trong cuốn tự thuật thì ông sinh ra trong một gia đình có người cha là một người sống tình cảm, chân thành và hào phóng, tuy rằng có hơi nóng tính. Gia đình ông không được giàu có lắm, bởi cha ông không có tham vọng làm giàu và để lại cho gia đình rất ít tài sản. Có lẽ trong đẳng cấp mà chủ yếu người ta thường buôn bán, nên học vấn thường không được chú trọng. Gandhi nói cha ông cũng thuộc thành phần không được học hành, xử lý công việc thường theo kinh nghiệm.Cha ông cũng không được đào tạo nhiều về tôn giáo. Giống như Napoleon, Gandhi chịu ảnh hưởng bởi tính cách đặc biệt của mẹ mình. Ông kể về ấn tượng sâu sắc nhất để lại trong trí nhớ của ông về người mẹ là sự thánh thiện, sự sùng đạo và sự kiên định trong việc tuân thủ những lời nguyện nghiêm nhặt. Ông cũng kể về sự thừa hưởng trí thông minh và óc sáng suốt của người mẹ, tuy ông có có phần khiêm nhường trong việc kể về sự khó khăn trong việc thuộc bảng cửu chương. Tuổi niên thiếu cua ông diễn ra êm đềm ở Sudamapuri.

Thời niên thiếu

Thời niên thiếu Gandhi thường tự kể về sự nhút nhát và ưa cô độc của mình. Ông ngại trò chuyện với bất kỳ ai. Cũng may cho ông vì thời đó người ta chưa biết đến chứng tự kỷ của trẻ. Ông luôn tự cho mình là ngu ngốc vì không phát âm sai chữ, nhưng có điều trong suốt thời đi học của ông, Gandhi không bao giờ quay cóp. Ông tự cho mình là một học trò biết vâng lời. Ông cũng thường hay xem kịch. Vở kịch ông ưa thích nhất là Harishchandra. Ông xem đi xem lại nhiều lần vở kịch này. Ông còn tự đóng vai Harishchandra nữa. Ông luôn tự vấn bản thân mình “Tại sao tất cả mọi người không chân thực được như Harishchandra?”. Ông luôn mong muốn được như nhân vật Harishchandra, muốn theo đuổi chân lý đến cùng và chịu đựng mọi thử thách như Harishchadra. Ông luôn xúc động và khóc khi xem vở kịch đó.

Lấy vợ

Gandhi lấy vợ vào tuổi 13. Vợ ông hơn ông 1 tuổi. Ông tự cho việc đó là một việc lạ lùng của một tập quán lạc hậu. Đám cưới của người Hindu ở Ấn Độ thời Gandhi hay như thời nay luôn luôn tốn kém và ồn ã. Việc Gadhi lấy vợ sớm cùng với hai người anh em khác trong gia đình là một sự tính toán cho sự thuận tiện và tiết kiệm mà thôi. Ông kể về cái đêm đầu tiên bị ném vào đại dương cuộc đời, trong đó có sự ngượng ngịu ban đầu, cho dù được người chị dâu chỉ bảo, ông cho rằng đó là dấu ấn của tiền kiếp nên chẳng cần phải ai phải bảo phải làm gì, và mọi thứ cứ tự nhiên diễn ra. Ông có tư tưởng về sự chung thủy có phần gia trưởng kiểu Việt Nam vậy. Ông nghĩ “Nếu tôi chung thủy với vợ, thì vợ cũng phải nguyện chung thủy với tôi”. Vì chính vì suy nghĩ này đã khiến ông phải khổ sở vì chứng ghen tuông. Ông luôn phải theo dõi nhất cử lưỡng tiện mọi hành động của vợ mình. Bà vợ ông đâu chịu như vậy, bà ấy đòi hỏi được phải có giao tế bạn bè, đền chùa. Ông thì cho rằng việc ông cấm đoán vợ ông đi chỗ này chỗ nọ xuất phát vì tình yêu. Ông muốn làm cho vợ ông trở thành một người vợ lý tưởng, tinh khiết như những gì ông đã học, và đã đọc. Có thể chúng ta ngày nay cảm thấy hơi khó hiểu tại sao ông lại có những suy nghĩ như vậy. Nhưng thực sự ngay ở Việt Nam thời kỳ trước 1954, kiểu vợ chồng trẻ con còn phổ biến, giống như nhân vật Giang Minh Sài trong tiểu thuyết “Thời Xa Vắng” của nhà văn Lê Lựu vậy. Gandhi đã có những suy nghĩ mà ngay cả người trưởng thành cũng không bao giờ nghĩ tới. Ông luôn đi tìm về một tình yêu thuần khiết và nỗ lực để có thứ tình yêu như vậy. Nên nhớ lúc này, vợ ông không thường xuyên ở bên cạnh ông. Đôi vợ chồng trẻ chỉ sống vỏn vẹn với nhau chưa quá 3 năm trước khi ông sang Anh du học.

Thời trung học

Cả ba anh em trai trong gia đình ông đều học chung một trường. Anh cả hơn ông nhiều tuổi. Anh thứ trên ông 1 tuổi, bỏ học sớm. Ông đưa ra nhận đình rằng có gì đó hơi giống với xã hội Việt Nam. Nếu như ở xã hội Hindu thời bấy giờ thì việc học hành và hôn nhân cùng song hành thì ở Việt Nam chúng ta, những người vợ các ông Tú Xương vẫn tần tảo nuôi chồng ăn học. Trở lại với Gandhi, ở trường trung học, ông là một học sinh đạt nhiều thành tích, học bổng. Ông nhạy cảm và sợ sự khiển trách, cho dù là sự khiển trách nhỏ. Ông không ưa môn thể dục cho lắm, vì ông nghĩ thể dục chẳng có liên quan gì đến học hành. Sau này, ông đã suy nghĩ lại. Ta nên nhớ lúc này, Ấn Độ là thuộc địa của Anh quốc, nên hầu hết các môn từ lớp bốn trở lên, ngôn ngữ giảng dậy là tiếng Anh. Ông cho rằng trong tất cả các giáo trình cao học ở Ấn Độ, nên dạy tiếng Hindi, tiếng Phạn, Ba Tư, Ả Rập, và tiếng Anh ngoài tiếng bản xứ. Ông cho rằng một sự hiểu biết sâu sắc và khoa học về một ngôn ngữ sẽ làm cho việc tiếp thu các ngôn ngữ khác trở nên dễ dàng. Có thể vì vậy mà sau này khi ông sang Anh, ông đã học cả tiếng La Tinh, là ngôn ngữ khoa học của Âu châu chăng?

Thời gian này, ông có nhiều suy nghĩ về ý tưởng rất mới. Ông cho rằng, nếu người nào muốn làm bạn với Thượng đế sẽ phải cô độc, hoặc phải biến cả thế giới thành bạn mình. Có những cuộc tranh luận cũng mới mẻ về ăn thịt. Một người bạn của ông giải thích về nguyên nhân việc người Anh cai trị Ấn Độ là người Anh là những người ăn thịt. Người bạn của ông lập luận rằng, bởi vì dân tộc Ấn Độ không ăn thịt nên yếu đuối và bị người Anh cai trị. Lập luận của người bạn ông về ăn thịt tạo ra những người có sức mạnh đã thuyết phục được không ít người trong đó có cả anh trai của ông. Chúng ta nghe chừng có thể cũng bị thuyết phục bởi lí lẽ này. Gandhi lúc này trông lẻo khẻo, gầy nhom, môn thể dục thì kém hơn rất nhiều so với người bạn của ông. Và ông đã phải tự đặt câu hỏi là tại sao mình không thể khỏe như anh bạn được? Vì ông không ăn thịt chăng? Gandhi bản dĩ nhút nhát, sợ bóng tối, trong khi vợ ông thì không sợ gì cả. Anh bạn ông có thể cầm được một con rắn sống trong tay, , chống lại kẻ trộm được. Và điều gì phải đến đã đến, ông đã bị thuyết phục bởi những lý lẽ như vậy. Ông đã bị dao động mạnh. Ông dần tin vào việc ăn thịt là tốt và ăn thịt sẽ làm cho ông mạnh mẽ và can đảm hơn. Ông còn tin rằng nếu cả nước Ấn Độ đều ăn thịt thì có thể đánh bại được người Anh. Cái suy nghĩ này đã thúc đẩy ông đi ngược lại với truyền thống của những người Vaishnava là những người kiên định chống đối tập quán ăn thịt. Nhưng ông muốn cải cách. Ông muốn dân tộc Ấn Độ mạnh mẽ, can đảm để có thể đánh đuổi người Anh, giành lại độc lập, và tự do. Và điều gì đã đến, ông đã giấu cha mẹ mình ăn thịt. Ông ăn thịt dê nhưng ông không thể nuốt. Ông không cảm thấy ngon nghẻ gì cả. Ông đã nôn ra hết và phải dừng lại việc ăn thịt. Đêm về, ông không ngủ được. Ông bị ảo giác. Ông gặp ác mộng. Trong cơn mơ sảng ông nhìn thấy một con dê sống kêu be be trong bụng. Ông bừng dậy và cảm thấy ân hận. Nhưng ông lại tự trấn an mình, ăn thịt là một nhiệm vụ, là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của người Anh cơ mà. Và ông dần dần thuyết phục được mình, thắng được sự hối hận lúc nãy. Ông tiếp tục ăn thịt, nhưng có điều thịt dê thì đắt, đâu phải lúc nào cũng có thể có tiền sẵn để ăn thịt dê đâu. Người bạn ông cũng không thể kiếm nổi tiền để ngày nào cũng chiêu đãi ông ăn thịt như vậy được nữa. Rồi ông cũng phải từ bỏ việc ăn thịt do phần nhiều vì lý do trên và ý muốn thuần túy là ông không muốn nói dối cha mẹ ông.

nguồn ảnh:  wikipedia, M.H Gandhi thời trẻ.

 

Vô Kỵ

Comments

comments

Powered by Facebook Comments

Related posts