NGÔ ĐÌNH NHU- ĐÔNG TÂY HỘI NGỘ

NGÔ ĐÌNH NHU-  ĐÔNG TÂY HỘI NGỘ

Cụ Trần Trọng Kim trong tác phẩm “Nho giáo” thời danh đã nói về vai trò quan trọng nếu không nói là tiên quyết của Nho học trong việc mở mang và đào tạo những nhân tài cho quốc gia tính từ thời Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán  năm 938 tại sông Bạch Đằng, mở ra một thời kỳ độc lập, tự chủ cho Việt Nam.

Thực tế mà nói, Nho giáo đã ăn sâu và thống trị trong tiềm thức dân tộc Việt Nam ngót nghét hai thiên niên kỷ. Cái gọi là cái học khoa cử đã truyền mãi như một định mệnh truyền thống  của dân tộc. Kỳ thi Nho học cuối cùng năm 1918 ở Trung Kỳ đã chấm dứt định mệnh truyền thống đó để rồi dư âm vẫn còn đọng lại trong tâm trí một số sĩ phu vẫn còn hoài niệm về một thời vang bóng.

Câu hỏi được đặt ra là:  khoa cử đã không còn, nhưng tinh thần của Nho giáo có còn không? Một nước Việt Nam đã từng coi Nho giáo là là một thứ đạo độc tôn mà tôn sùng suốt bao nhiêu đời, thiết nghĩ chưa thể một chốc một chiều mà lụi tàn được. Nhất là khi người Pháp vào, họ thiết lập nền đô hộ trên đất nước ta, các nhà trí thức nước ta đã ý thức được công cuộc chấn hưng văn hóa đất nước mình bằng nhiều phương thức khác nhau, và tất nhiên là cho ra nhiều các kết quả khác nhau. Một công cuộc trăm hoa đua nở về sự học hỏi phương Tây đã diễn ra trên đất nước này trong công cuộc bảo hộ của người Pháp.  Và một trong những hoa trái đó là việc thành lập nhà nước Cộng Hòa vào năm 1955 tại Sài Gòn với vị tổng thống đầu tiên Ngô Đình Diệm. Nhưng linh hồn của nhà nước Cộng Hòa này lại là một con người thầm lặng-  ông Ngô Đình Nhu, bào đệ của ông Diệm.

 

Thời niên thiếu trầm lặng

Chúng ta không được biết nhiều về đời tư của ông Ngô Đình Nhu.Theo như một số tài liệu ghi thì ông sinh năm 1910 tại thành phố Huế, khi cha mình là ông Ngô Đình Khả làm Thượng Thư Bộ Lễ, triều vua Thành Thái. Lúc nhỏ ông đi tu ( đạo Công giáo- chữ của người viết) tại tiểu Chủng Viện An Ninh, Quảng Trị cho tới khi cha ông mất năm 1925, ông xuất tu. Có lẽ  việc cha ông mất đã tác động đến ông và khiến ông chuyển hướng đi. Ông Nhu và ông Luyện (người con trai út của gia đình Ngô Đình) được gia đình cho sang Pháp du học sau đó. Khác với nhiều thanh niên trí thức thời đó thường chọn Luật khoa hay Văn chương thì ông Nhu chọn trường Quốc Gia Cổ Điển Học (Ecole Nationale des Chartes), với luận án tốt nghiệp là: “Les Moeurs Et Les Coutumes Des Annamites Du Tokin Au XVIIe Siècle.”- Phong Tục Tập Quán của Người An Nam ở Bắc Kỳ vào thế kỷ XVII). Ông tốt nghiệp vào năm 1938,  sau đó về nước, được bổ làm Quản Thủ Văn Khố Tòa Khâm Sứ Huế (1943), thời chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945 thì được bổ làm ở Tổng Văn Khố Quốc Gia, tức Giám đốc Quản Thủ Thư Viện Trung Ương cho tới sau ngày cách mạng tháng 8 được chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bổ dụng trở lại. Theo những người từng cộng tác với ông và biết ông thì ông thuộc tuýt người giản gị, ít nói, trầm tĩnh, điềm đạm và là một một chuyên viên mẫn cán.  Hoàng Xuân Hãn trong một cuộc mạn đàm với bà Thụy Khuê năm 1996 ở Paris, Pháp quốc khi được hỏi về Ngô Đình Nhu, ông nói: “Tôi và Ngô Đình Nhu ít thân nhau dù là bạn học. Mà nói chung các bạn chúng tôi ít đi lại với Nhu. Anh ấy sắc sảo, chặt chẽ lại tính toán nên các bạn không thích. Những người ở xa nói ông ấy khắc nghiệt. Chúng tôi ở gần thì nói anh ấy nhiều chính trị và kỹ thuật mà thiếu tình cảm.” Quá trình ở Hà Nội, ông là người tổ chức và dạy những khóa học, những khóa huấn luyện cho thanh niên Công giáo về Xã hội, địa điểm quen thuộc tại 40 phố Nhà Chung. (theo những gì mà Linh mục Mattheu Vũ Khởi Phụng kể lại- NGÔ ĐÌNH NHU- MỘT NHÀ CHIẾN LƯỢC HÒA GIANG ĐỖ HỮU NGHIÊM)- đăng trên nghiencuuquocte.org). Có thể nói thế giới của ông Nhu là thế giới của suy tưởng cùng  hoài cổ, việc ông được bổ là việc tại viện Viễn Đông Bác Cổ lại càng thêm cổ vũ mạnh mẽ cho cái suy tưởng đó. Ông hiếu cổ,  chắc là như vậy rồi. Nếu không ông đã nề ngại hiểm để  bảo vệ và lưu trữ  Mộc bản triều Nguyễn .Với nhiều biến động của thời cuộc thì hành động của ông Nhu được coi là can đảm và có phần hơi dại dội so với tính thực tế trí thức Việt thời đó. Hẳn những vị tiền bối như Lê Qúy Đôn hay Phan Huy Chú cũng có lẽ phải  ngạc nhiên và thán phục về vị chuyên viên mẫn cán đó. và  Quá trình đó diễn ra êm đềm, lặng lẽ cho tới biến cố sau Cách Mạng Mùa Thu 1945.

 

Mối nhân duyên trời định

Năm 1943, ông Nhu kết hôn với bà Trần Lệ Xuân sau ba năm tìm hiểu. Lúc này ông 33 tuổi và nhiều hơn bà 15 tuổi. Nhiều ý kiến cho rằng đây là cuộc hôn nhân chính trị. Tác giả Monique  Brinson  Demery trong cuốn “Madam Nhu Trần Lệ Xuân- Quyền lực bà rồng” thì không cho là như vậy. Việc bà Trần Lệ Xuân quyết định lấy ông Nhu là do nhu cầu tự thân của bà  “ một cuộc hôn nhân sẽ giải phóng cô khỏi những nỗi bẽ bàng hàng ngày mà gia đình cô gây ra”.  ( SĐd  tr. 53). Có thể coi đó là cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối theo truyền thống văn hóa Việt Nam. Ông Nhu có một sự nghiệp ổn định, lại xuất thân trong một gia đình danh gia vọng tộc ở Huế là một lợi thế chinh phục. Ông Nhu lại là người Công giáo, đã từng đi tu và có người anh trai là Giám mục Ngô Đình Thục  nhưng không sao, bà Nhu sẽ gia nhập đạo của chồng.  Cuộc hôn nhân định mệnh đã làm thay đổi cuộc đời bình lặng của hai ông bà khi mà sau này bà Nhu là Đệ nhất phu nhân của Việt Nam Cộng Hòa và ông Nhu được gọi là Ông Cố Vấn.  Bà Nhu đã lần lượt sinh cho ông 4 người con: Ngô Đình Lệ Thủy( 1946), Ngô Đình Trác(1949), Ngô Đình Huỳnh (1952), và người con gái út Ngô Đình Lệ Quyên(1959). Điều đặc biệt ở gia đình vọng tộc này là cả 4 người con này đều được bú sữa từ người mẹ (tức bà Nhu- chữ người viết). Ông Nhu ở bên vợ con không nhiều, theo như bà Nhu kể thì những ngày tháng hạnh phúc và êm đềm nhất là khi hai ông bà ở trên Đà Lạt vào những năm 46-50.  Đà Lạt dường như là một chốn bình yên, Ông Nhu có thấy hạnh phúc không? Chúng ta không được biết. Ông mải mê với những suy tưởng và cải cách xã hội, bên câu chuyện lò sưởi của đêm Đà Lạt vào những năm 1948 theo như lời kể trong cuốn  hồi ký Bên giòng lịch sử của Linh Mục Cao Văn Luận.

 

Chính trị gia muộn màng

Sau biến cố Cách Mạng Mùa Thu 1945, người anh cả Ngô Đình Khôi và người cháu đích tôn của dòng họ Ngô, Ngô Đình Huân bị Việt Minh thủ tiêu ở ngoại ô ở thành phố Huế, ông Nhu được gọi lên Bắc Bộ Phủ đón anh trai ông là Ông Ngô Đình Diệm về. Những ngày tháng sau đó, ông đã phải chốn chạy về khu Phát Diệm, nơi được coi là khu an toàn dưới sự lãnh đạo của Đức Cha Lễ Hữu Từ. Tại đây ông đã gặp cha mẹ vợ là ông bà Trần Văn Chương. Những gốc cây cổ thụ trước Phương Đình của nhà thờ Đá Phát Diệm còn in dấu vết của những con người ưu tư trong đó có ông Nhu của những buổi chiều yên ắng trong tiếng kinh cầu. Cảnh vẫn còn đó, người xưa đâu rồi? Ông đã dứt khoát để đưa ra một quyết định dấn thân làm chính trị. Từ Phát Diệm, ông chạy xuống Thanh Hóa, rồi từ Thanh Hóa qua ngả Lào vào Nam.

Ông đi đi về về  Sài Gòn- Đà Lạt, ngay cả bà Nhu cũng không biết ông đi đâu? Làm gì?  Khoảng năm 1950, ông đã tập hợp một số nhân vật quốc gia như Trần Văn Đỗ, Trần Quốc Bửu, … lập nhóm           Tinh Thần và cho xuất bản tờ Xã hội để nghị bàn về chính sự để rồi năm 1953, đã cho ra đời một chính đảng là CÔNG NÔNG CHÁNH ĐẢNG sau đổi là Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng.  Năm 1955, ông Nhu là tổng bí thư của Đảng Cần Lao.

Tính cách thầm lặng của ông Nhu đã có phần nào ảnh hưởng đến chính đảng mà ông sáng lập. Nhiều người ta cho rằng Đảng này là  đảng hoạt động bí mật, phương thức hoạt động và tổ chức gần giống như Đảng Cộng Sản.  Nhìn về bên ngoài thì có vẻ như vậy, nhưng thực tế Cần Lao Nhân Vị lại hơi khó hiểu với quần chúng và quân đội bởi tính chất trừu tượng nên đã không thâm nhập được vào đời sống tinh thần của các đảng viên và cảm tình viên. Xin nói qua về sứ mệnh của Đảng Cần Lao này là Nhân Vị+ Cộng Đồng= Đồng Tiến. Mục đích của chủ nghĩa Nhân vị là đạt đến Tam Nhân gồm:  Tương quan cá nhân và nội tại; cá nhân và cộng đồng; cá nhân và siêu nhiên.  Nội tại là đào tạo bề sâu của con người gồm có tự do và trách nhiệm, Cộng đồng là phát triển bề rộng của con người gồm gia đình, xã hội, quốc gia, nhân loại, và thiên nhiên. Siêu nhiên là củng cố bề cao của con người về tín ngưỡng để đạt “Chân, thiện, mỹ”. Tóm lại đó là khiến con người phát triển toàn diện về chiều dài, chiều rộng và chiều cao. Tuy vậy, Cần Lao Nhân Vị đã là cơ sở để yểm trợ cho tổng thống Ngô Đình Diệm và là nền tảng để đưa ra những chính sách quan trọng của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, điển hình là ẤP CHIẾN LƯỢC, người ta mới thấy rõ vai trò của ông NGÔ ĐÌNH NHU.

 

Ấp Chiến Lược, công cuộc dở dang

Ông Nhu coi Ấp Chiến Lược là một quốc sách của Việt Nam Cộng Hòa, đượt phát động từ những năm đầu của Nền Cộng Hòa, dựa trên nền tảng là Khu Tru Mật. Có thể coi đó là tâm huyết nghiền ngẫm bao năm của ông và cộng sự Cần Lao Nhân Vị. Đó là một kế hoạch táo bạo bởi nếu thành thì Việt Nam Cộng Hòa sẽ giống như kiểu như Israel, nó có giống như Kế hoạch S       taley- Thúc mà giáo sư Vũ Quốc Thúc cho là không khả thi. Chúng ta nên nhớ lúc này quân đội du kích Cộng Sản đang tấn công ở một số vùng tỉnh Bến Tre và Tây Ninh và toàn miền Nam. Một chương trình như Ấp Chiến Lược là khẩn thiết và mang tính bền vững hơn. Ông Nhu đã nghiền ngẫm chương trình này từ lâu cộng với kinh nghiệm từ Mã Lai, thì  Ấp chiến lược đã tỏ ra thành công trong việc chống Cộng. Với đặc tính dân cư sống thưa thớt như ở miền Nam thì công cuộc đối đầu với Cộng Sản thì phải trật tự và ổn định trước. Công cuộc này đang tiến hành dở dang thì xảy ra cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 như ta đã biết.

Ngày Lễ Linh Hồn của người Công giáo, Ông Nhu đã cùng với anh mình là Ngô Đình Diệm bị  Nguyễn Văn Nhung ám sát trên chiếc quan tài bọc thép là chiếc xe thiết giáp M-113 do người Mỹ viện trợ.

Người đời sau hẳn còn nhớ mãi câu nói giọng Huế cuối cùng của ông Diệm với ông Nhu và sự lặng thing vốn dĩ của ông Nhu trước khi cùng nhau về trùng đài:

“Không đi mô cả. Tôi ở mô chú ở đó. Chú ở mô, tôi cũng ở đó. Sống chết có nhau”.

Rút cục thì ông Nhu,  một người khi nhắc tới thường làm người ta nể sợ nhiều hơn. Tuy rằng cái tên “Nhu” không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên, mang ý nghĩa chữ Nho nghĩa là làm cho“nể, sợ” nhưng thiết nghĩ phần nào cho thấy con người NHO trong sự giáo dục TÂY học mà ông thấu triệt.

Vô Kỵ

nguồn ảnh: nhatbaovanhoa.com

 

 

 

Comments

comments

Powered by Facebook Comments

Related posts