NGÔ ĐÌNH DIỆM- CHÍNH NGHĨA DANG DỞ

NGÔ ĐÌNH DIỆM- CHÍNH NGHĨA DANG DỞ

Đó là một nhân vật gây nhiều tranh luận nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam của thế kỷ XX.

Cuộc đời ông Ngô Đình Diệm có thể điểm qua những cột mốc quan trọng như sau: 1901, 1925, 1933, 1945, 1954, 1955, 1960, 1963.

1901

Ông Diệm sinh trưởng trong một gia đình Công giáo toàn thành  và lâu đời ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình,  vào năm 1901.  Cha ông là Ngô Đình Khả, một người đã từng đi tu ở chủng viện Pennang, sau đó thì xuất tu, lấy vợ. Ông Khả được coi là uyên thâm Nho học và tiếng Latinh, tiếng Pháp . Ông Khả từng làm đến chức thượng thư triều đình Thành Thái, khi mà lúc này người Pháp đã cai trị nước ta.  Ông Khả là vị thượng thư duy nhất không ký vào lệnh đày vua Thành Thái ra đảo. Tại vùng Huế người ta còn truyền tụng câu vè “Đày vua không Khả, đào mả không Bài”.  Ông Khả bị cho thôi chức, ông về làm ruộng nuôi đại gia đình đông con.

1925

Ông Ngô Đình Khả, tức cha ông Diệm cũng là người sáng lập trường Quốc Học Huế. Ông Diệm từng theo học ngôi trường này rồi ra Hà Nội học trường Hậu Bổ.  Năm 1925, ông Khả qua đời. Trước lúc mất, cụ Khả trăn trối lại với ông Diệm và tất cả các con ông: “Diệm, con có đủ đức tính cần thiết  để trở thành người lãnh đạo tốt, con phải lãnh đạo. Các con phải cùng với nó (ông Diệm) tranh đấu dành lại một nền độc lập hoàn toàn, thì mới thực hiện được công cuộc cải tạo xã hội xóa bỏ được bất công được. Ông Diệm và toàn thể anh em đã cùng thề với ước nguyện của người cha sắp qua đời.

1933

Ông Diệm là Thủ Khoa ở trường Hậu Bổ năm 21 tuổi, từng làm tri huyện Hương Thủy  năm 1923, tri phủ Hải Lăng (Quảng Trị ) năm 1926, tỉnh trưởng tỉnh Bình Thuận năm 1929.  Ngày 8 tháng 4 năm 1933, vua Bảo Đại đã ban hành một đạo dụ cải tộ nội các, đích thân chấp chính. Ngô Đình Diệm được mời về làm Thượng Thư Bộ Lại. Lúc này ông mới 32 tuổi, là người trẻ nhất từng giữ vị trí này trong lịch sử   triều Nguyễn.  Chỉ ba tháng sau, tức ngày 12 tháng 7, ông từ chức sau khi những đề xướng cải cách không được người Pháp chấp nhận. Ông cũng là vị thượng thư   đầu tiên trong lịch sử quân chủ Việt Nam từ chức tính từ thời nhà Đinh( năm 968).

1945

Việc ông Diệm từ chức đã gây xôn xao kinh thành Huế và ra cả Bắc Kỳ, người ta tự hỏi sao lại có việc lạ đời như thế? Xu hướng truyền thống ở Việt Nam là học hành để rồi ra làm quan giúp vua trị nước. Với quan niệm trung quân ái quốc truyền thống, việc ông Diệm từ quan để về làm thường dân là việc hiếm thấy. Tuy rằng lúc này người Pháp đã cai trị nước ta, việc chống Pháp và đòi lại nền độc lập cho nước nhà hẳn là một ước nguyện cao hơn và thường tình hơn.  Ông Diệm cũng không phải là một ngoại lệ. Sau khi từ chức, ông về ngôi nhà ở Huế sống cùng mẹ. Trong thời kỳ này, một vị cách mạng tiền bối là Phan Bội Châu cũng đang bị thực dân Pháp giam lỏng ở Bến Ngự.  Ông Diệm có gặp cụ Phan Bội Châu không? Chúng ta không biết rõ. Nhưng nếu họ gặp nhau hẳn sẽ nói về nhiều chuyện. Chỉ biết rằng, ông Diệm đã ủng hộ  nhiệt thành hoàng thân Cường Để, người cháu nội của Hoàng Tử Cảnh( Đông Cung Thái Tử- con trai đầu của vua Gia Long). Thời kỳ này, ông  Diệm vừa dạy học ở trường Thiên Hựu, nơi anh trai mình là Ngô Đình Thục làm giám học, ông Diệm cũng là người sáng lập và lãnh đạo tổ chức Đại Việt Phục Hưng hội. Tháng 7 năm 1944, ông bị mật thám Pháp bắt và giam giữ. Nhờ có anh trai là Ngô Đình Thục, lúc này đã là giám mục vận động và viết thư xin ân xá. Hiến binh Nhật cũng đã can thiệp, dùng máy bay đưa ông vào Sài Gòn. Tại Sài Gòn, ông thành lập Uỷ ban Kiến Quốc, phò tá hoàng thân Cường Để.

Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại chỉ định học giả Trần Trọng Kim thành lập chính phủ,  lấy niên hiệu là Đế Quốc Việt Nam. Có nhiều uẩn khúc trong chuyện này. Cụ Trần Trọng Kim trong hồi ký “Một cơn gió bụi”  cũng có kể lại chuyện này.  Cụ có nói là trước khi mời ông làm Thủ tướng thì vua Bảo Đại có cho vời Ngô Đình Diệm nhưng không được? Tại sao vậy? Tại vì người Nhật đã chặn lại điện tín đó. Nhưng tại sao người Nhật lại chọn Bảo Đại mà không phải là hoàng thân Cường Để là người đã ở Nhật và hoạt động lâu năm? Bản thân Cường Để cũng đã lấy con gái của Nhật Hoàng.

Đế quốc Việt Nam tồn tại được hơn 4 tháng, để lại với bao nhiêu hoài bão và sự nuối tiếc để rồi cuộc cách mạng mùa thu 19 tháng 8 đã chấm dứt trong sự ngậm ngùi của các chí sĩ Việt Nam. Vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị, trở thành công dân Vĩnh Thụy. Người anh trai cả và người cháu đích tôn của dòng họ Ngô Đình là Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân cùng học giả Phạm Quỳnh đã bị chính quyền cách mạng bắt và đưa đi. Nhiều năm sau này, người ta mới tìm thấy xác của những người này ở khu vực ngoại ô Huế.  Ông Diệm cũng bị Việt Minh bắt ở Tuy Hòa, rồi sau đó đưa ra giam giữ ở Tuyên Quang. Sau đó ông được đưa về Hà Nội gặp Hồ Chí Minh tại Bắc Bộ Phủ. Chưa có tài liệu nào công bố về cuộc gặp gỡ vô tiền khoáng hậu đó nên chúng ta không thể biết được cuộc trao đổi đó nói những gì. Trong hồi ký Sự thực Có Sức Giải Phóng của linh mục Trần Văn Kiệm, thì Linh mục Kiệm được nghe ông Diệm có kể lại về lời đề nghị làm Thủ tướng của Hồ Chí Minh nhưng ông Diệm cương quyết từ chối. Ông Hồ Chí Minh đã không thuyết phục được ông Diệm tham gia cộng tác nên đã gọi ông Ngô Đình Nhu lúc này là giám đốc lưu trữ quốc gia đến bảo lãnh về.

1954

Thời gian kể từ khi dời Bắc Bộ Phủ  được coi là thời kỳ kín tiếng của ông Diệm. Ông vào Sài Gòn, liên minh với Đại Việt quốc dân Đảng năm 1947 với Nguyễn Tôn Hoàn. Có lúc ông ra Huế sống cùng với người em trai giáp út là Ngô Đình Cẩn, khi thì ông lên Đà Lạt sống cùng vợ chồng Ngô Đình Nhu, lúc thì vào Vĩnh Long sống tại tòa giám mục với người anh trai Ngô Đình Thục. Năm 1950, ông lại sang Nhật Bản gặp Cường Để. Tại đây, ông gặp tướng Douglas MacArthur và giáo sư Wesley Fishel- người đã ảnh hưởng đến việc ông qua Hoa Kỳ sau này. Tháng 9 đồng năm, ông qua Hoa Kỳ cùng người anh trai của mình là giám mục Ngô Đình Thục. Ông đã lưu trú ở Hoa Kỳ hơn hai năm dưới sự bảo trợ của Hồng Y Tổng giám mục New York  Spellman, một người bạn cùng lớp với giám mục Ngô Đình Thục  ở trường truyền giáo Roma.  Thời gian này, ông Diệm đã làm những gì. Có thể coi đó là một cuộc nghiên cứu Hoa Kỳ. Ông gặp nhiều chính khách của Hoa Kỳ, trong đó có thượng nghị sĩ John F.Kenedy, người sau này trở thành tổng thống  thứ 35 của Hoa Kỳ. Ông cũng đã kết giao với nhiều du học sinh, lúc này vẫn còn ít ỏi như Linh mục Trần Văn Kiệm, Bùi Kiến Thành, Bùi Công Văn,…những người đó sau này được ông gọi về nước xây dựng chính quyền Cộng Hòa non trẻ. Bùi Kiến Thành, trong cuốn “Bùi  Kiến Thành, Người mở khóa lãng du” có kể lại về thời kỳ đó “Khi ông Diệm đi hội thảo ở đâu, ổng nói anh nào đi cùng với tôi, thì có thể làm thư ký viết bài để tôi phát biểu. Một lần ông dự hội thảo ở Cleveland, chủ đề nói về Á châu, ổng nói bữa nay anh Thành  đi với tôi đi. Ngồi trên xe lửa, ổng nói đủ chuyện. Mình đã mệt chết, mệt nhoài rồi, ngồi bên thì ổng cứ hút thuốc sáng đêm rồi ổng nói. Ổng nói trắng đêm mà mình có nghe thấy gì đâu, lâu lâu mở mắt ra thấy cái điếu thuốc đỏ đỏ. Bùi Kiến Thành cười khoái chí, kể tiếp: “ Về New York rồi thì mình về trường, ông qua bên New Jersey. Ổng có rất nhiều ý tưởng, dự án trong đầu. Ổng nói về vấn đề cộng sản thế nào, quan hệ với ông Hồ Chí Minh ra làm sao, vui lắm. Ở bên ổng như vậy gần hai năm trời, mình học được rất là nhiều thứ.” Có thể coi thời gian này là thời gian ông nghiền ngẫm về kế hoạch cũng như chiêu hiền  tài để về nước phụng sự sau này.

Năm 1953, ông Diệm qua Pháp. Sau đó, ông qua Bỉ sống ở một tu viện thuộc Dòng Biển Đức.  Tại đây, ông đã chính thức khấn để trở thành một tu sĩ cho tới ngày 16 tháng 6 năm 1954, Quốc trưởng Bảo Đại mời ông qua Pháp, một lần nữa, Bảo Đại đề nghị ông Diệm làm thủ tưởng.  Ông Diệm đã ba lần từ chối làm thủ tướng của Bảo Đại, nhưng lần này ông đã đã đồng ý. Chúng ta có thể hiếu được tình thế cấp bánh lúc này, Pháp đã đại bại ở Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954.

Ngày 7/7/1954, ông Diệm chính thức nhậm chức Thủ tướng của quốc gia Việt Nam với thành phần nội các là 18 người. Lúc này cũng là lúc Hiệp định Genève bắt đầu được thi hành với việc phân đôi lãnh thổ Việt Nam bằng vĩ tuyến 17. Một thách thức lớn với Tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

 

1955

Kể từ khi chấp chính ngày Song thất (7/7/1954), ông Diệm phải giải quyết với hàng loạt các thách thức mà tưởng chừng không thể nào tháo gỡ. Đó là việc lo việ định cư cho gần 1 triệu người Bắc di cư. Nhưng lấy phương tiện nào để lo khi mà ông Diệm không nắm được An ninh vào Quân đội lúc này thuộc về Bình Xuyên kiểm soát. Bảo Đại thì luôn tìm cách đá đít ông Diệm bằng sự thỏa hiệp với Bình Xuyên và người Pháp. Chúng ta nên nhớ lúc này, quân đội viễn chinh Pháp vẫn còn lại ở Sài Gòn hơn 15 vạn lính. Có rất nhiều sự hiểu lầm về việc ông Diệm được người Mỹ đưa lên, nhưng thực ra, người Mỹ chưa có một kế hoạch rõ ràng và dứt khoát  về việc ủng hộ Diệm lúc này, nói rõ hơn là người Mỹ còn nhùng nhằng đợi chờ. Tất nhiên với những thành tích chống Pháp trong quá khứ, thì người Pháp luôn tìm mọi cách hất cẳng ông Diệm. người Mỹ phải đưa ra chọn lựa chọn Pháp hay chọn Diệm. Với tư duy hiệu năng của người Mỹ, họ đã tính toán. Trong lịch sử, người Pháp đã từng thỏa hiệp với Việt Minh  năm 1946, rồi tới năm 1954, ở hiệp định Gienève, họ lại thỏa hiệp lần nữa bằng việc phân chia Việt Nam thành hai miền. Chẳng ai có thể dám chắc rằng người Pháp không tái diễn lại tư duy thực dân của họ, khi mà tư duy đó vẫn còn ảo tưởng về một quyền lợi ở lãnh thổ Bắc Việt và Nam Việt Nam. Với một bản tính cương quyết như ông Diệm thì việc một Việt Nam phải độc lập về chủ quyền là điều đương nhiên. Với việc thuyết phục vị tướng trẻ của Cao Đài là Trình Minh Thế về với quân đội Quốc gia, ông Diệm đã thay đổi thế cục toàn diện.  Quân đội Bình Xuyên bị đánh đuổi ra khỏi Sài Gòn- Chợ Lớn. Ông Diệm đã chứng minh với người Mỹ rằng ông có thể làm được, ông có thể ổn định được tình hình. Với một niềm tin tưởng  mãnh liệt, ông Diệm tin tưởng vào sứ mệnh được chọn. Ngày 7/7/1955, kỷ niệm một năm ngày chấp chính Thủ tướng, ông Diệm đã đưa ra một quyết định dứt khoát. Một cuộc trưng cầu dân ý sẽ được tổ chức về việc chọn ông Ngô Đình Diệm hoặc cựu hoàng Bảo Đại là người lãnh đạo đất nước. Sự dùng dằng của Bảo Đại đã khiến ông mất hết uy tín với dân chúng và điều gì phải đến đã đến. Dân chúng đã phế chuất Bảo Đại, chọn Ngô Đình Diệm. Và người Mỹ, dĩ nhiên rồi, đã chọn ông Diệm, chỉ vì những gì người Mỹ thấy được những thành quả ông Diệm đã làm. Ngày 28 tháng 4 năm 1956, người lính Pháp đã rời Việt Nam sau 98 năm đặt chân tới mảnh đất này(ngày 2/9/1858,  Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà- Đà Nẵng).

Ngày 26 tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Diệm tuyên bố thành lập chế độ CỘNG HÒA mà ông trở thành vị tổng thống đầu tiên. Tên nước đổi từ “Quốc gia Việt Nam” sang “Việt Nam Cộng Hòa”. Quốc ca là bài “Tiếng gọi Công dân”, quốc kỳ là Cờ vàng  ba sọc được giữ nguyên không đổi.

1960

Từ khi nhà nước Cộng Hòa được thành lập, Quốc hội lập hiến được bầu lên 123 dân biểu vào ngày 4 tháng 3 năm 1956. Dưới sự cố vấn của chuyên gia hiến pháp người Mỹ, ông J.A.C Grant,  quốc hội lập hiến Việt Nam Cộng Hòa  đã thông qua hiến pháp với nền tảng của nguyên tắc phân quyền như hiến pháp Hoa Kỳ.  Chúng tôi xin được trích dẫn lời mở đầu của Bản hiến pháp:

“ Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử  tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;

Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;

Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động quốc gia;

Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:

Ý thức rằng Hiến Pháp  phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;

Nguyện vọng ấy là:

Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;

Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;

Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá cho toàn dân  trong sự tôn trọng nhân vị;

Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;

Ý thức rằng nước ta trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.”

 

Thiết nghĩ, với lời mở đầu Hiến pháp dài 287 chữ này, với cương vị của một vị tổng thống đầu tiên của nền Cộng Hòa, tất cả những tinh túy nghiền ngẫm trong quá trình bôn ba, tổng thống Diệm cần một khoảng thời gian để đưa những nguyên tắc căn bản trên lý thuyết kia trở thành hiện thực. Và ông đã bắt đầu thực hiện chương trình đó bằng một kế hoạch táo bạo.

Đối với thế giới thì việc thành lập Việt Nam Cộng Hòa chính là việc khai sinh theo cách gọi của báo chí “Một Quốc Gia Tự Do vừa ra đời” . Hoa Kỳ đã chính thức ủng hộ chính quyền Cộng Hòa non trẻ  bằng một hành động thiện chí. Tháng 5 năm 1957, tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower mời Tân Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm sang thăm Hoa Kỳ. Đích thân tổng thống Mỹ Eisenhower ra tận phi trường đón chào Tổng thống Ngô Đình Diệm. Trong một vinh dự hiếm thấy của một quốc gia ít trọng lễ nghĩ như ở Hoa Kỳ thì việc tổng thống Diệm được đối xử theo nghi thức trang trọng như vậy cho thấy việc Hoa Kỳ đã hết sức tôn trọng và không dấu niềm ngưỡng mộ những thành quả mà  tổng thống Diệm đã làm ở Việt Nam. Lưỡng viện Hoa Kỳ đã mời tổng thống Diệm tới diễn thuyết. Và một điều lý thú và ngẫu nhiên, ông Diệm là vị lãnh tụ Á Đông đầu tiên diễn thuyết ở lưỡng viện Hoa Kỳ.  Trong cuốn “Khi Đồng Minh Nhảy Vào”, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng có viết về đoạn tổng thống Diệm diễn thuyết đến đâu, các dân biểu, thượng nghị sĩ Hoa Kỳ vỗ tay nồng nhiệt tới đó, nhất là khi tổng thống Diệm nói tới “ước nguyện của nhân dân Việt Nam chỉ là được sống trong hòa bình, tự do và họ sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ tự do và độc lập của mình, chỉ yêu cầu nhân dân và chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ  cho họ về phương tiện và vật chất.” Tất nhiên ông Diệm nói bằng tiếng Anh. Còn gì ngoại giao và tôn trọng  hơn bằng  khi nói lên những ước vọng trước Lưỡng viện Hoa Kỳ bằng tiếng mẹ đẻ của họ. Và tất nhiên nhân dân và chính phủ Hoa Kỳ đã hết lòng ủng hộ tổng thống Ngô Đình Diệm và bản Hiến Pháp của Việt Nam Cộng Hòa.

Có lẽ người dân miền nam sống trong những năm 1955-1960 còn nhớ về một thời kỳ bình yên và sống động  dưới thời tổng thống Diệm. Báo chí thời đó gọi là “5- Năm Vàng Son 1955-1960”. Quả thật, những chương trình về nông thôn, thủy lợi được chú trọng, nhất là công cuộc ổn định định cư cho một triệu người Bắc di cư. Nói như tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng khi ông trích dẫn lời bài Hội Trùng Dương của nhạc sĩ Phạm Đình Chương khi viết về thời kỳ được coi là hạnh phúc và bình yên nhất của người dân miền Nam:

Nước sông dâng lên cá lội ngù ngờ

Nước sông xanh lơ bóng in cây dừa

Về về đây Miền Đồng Nai có Cửu Long

Nguồn chảy dâng trời Nam mạch sống.

Một thời yên bình và tương lai rạng ngời cho Quốc gia khi tổng thống Diệm cho thành lập các “Khung trời đại học” ở  Sài Gòn là Viện ĐH Sài Gòn 1955, Học Viện Quốc gia Hành Chánh, 1955, ở Huế là Viện ĐH Huế 1957. Các chính sách toàn diện về Cải cách điền địa, các hạ tầng cơ sở được xây dựng và thành lập về  đường bộ, đường sắt, đường thủy và hải cảng, hàng không. Về ngân hàng và tiền tệ, ngay từ năm 1955, ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được thành lập để thay thế Ngân hàng Đông Dương. Kế hoạch Staley- Thúc được đề ra. Mọi thứ đều được thiết lập để phù hợp cho một nước Việt Nam Cộng Hòa còn non trẻ. Khi bình minh đang tới thì cũng là lúc bóng tối của màn đêm cũng bắt đầu xuất hiện. Lực lượng những người Cộng Sản đã bắt đầu tấn công vào Bến Tre và Tây Ninh. Tháng 4 năm 1960, tại khách sạn Caravelle, một nhóm nhân sĩ 18 người đã họp nhau lại và đưa ra một bản Tuyên ngôn đề nghị tổng thống Diệm dân chủ hóa, chấp nhận đối lập, cải tổ hành chính, chấm dứt nạn độc đảng, bài trừ tham nhũng…bản tuyên ngôn viết bằng Anh ngữ và được phổ biến với báo chí quốc tế nên rất được dư luận Hoa Kỳ quan tâm. Tổng thống Diệm với bao mối tơ vò, nhất là tình hình quân đội Cộng Sản đang mở rộng chiến tranh du kích toàn cõi miền Nam, ông đã không quan tâm một cách đúng mực với bản tuyên ngôn này. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời với vị chủ tịch là Nguyễn Hữu Thọ.

 

1963

Phía Hoa Kỳ lúc này, họ đã phản ứng như thế nào? Thời kỳ mặn nồng đã qua. Tuy rằng tổng thống Eisenhower vẫn hết lòng tin tưởng và ủng hộ tổng thống Diệm, nhưng nên nhớ lúc này vào cuối năm 1960, nước Mỹ đang bước vào công cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Phía Mỹ thì bận rộn như vậy, còn ở  Nam Việt Nam, ngày 11 tháng 11 năm 1960, Trung tá Vương Văn Đông và Đại tá Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh lữ đoàn nhảy dù tổ chức đảo chính. Quân đội nổi loạn đã chĩa đại bác bắn thẳng vào phòng ngủ của Dinh Độc Lập, ông Diệm may mắn thoát chết. Lúc này đại sứ Hoa Kỳ là Dubrow khuyên ông Diệm nhượng bộ quân nổi loạn. Và ông Diệm tất nhiên đã hết sức bất bình với lời khuyên này. Cuộc rạn nứt và nghi kỵ giữa Ông Đại sứ Mỹ và Tổng thống Ngô Đình Diệm bắt đầu từ đây. Phía Hoa Kỳ cũng đã bầu xong Tổng thống.  Ngày 20 tháng 1 năm 1961, John F.Kenedy đã chính thức nhậm chức tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ. Ở phần trên, nếu như theo cách hiểu thông thường, giữa hai vị tổng thống Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, họ đã từng biết nhau từ trước khi họ làm tổng thống. Đó là còn là mối liên hệ gần gũi bởi họ là hai tổng thống đầu tiên là người theo đạo Công giáo Rô ma.  Đối với Hoa Kỳ thì John F.Kenedy là vị tổng thống Công giáo đầu tiên và đối với Việt Nam cũng vậy. Họ đã từng có những cuộc trao đổi mạn đàm với nhau thời kỳ ông Diệm đang vi hành ở Mỹ. Đối với vị tân tổng thống trẻ tuổi và hào hoa của Hoa Kỳ, với những bài diễn văn hùng hồn khi tranh cử với Nixon, ông thể hiện lập trường “để đảm bảo sự sống còn và thành công của tự do”. Giữa tuyên bố thì là vậy, nhưng thực tế John Kenedy đã thất bại trong chiến dịch “Vịnh Con Heo” ở Cuba năm vào những ngày cuối tháng 4 năm 1961 để lại chính quyền Cộng Sản thân Liên Xô do Fidel Castro lãnh đạo. Đối với vị tổng thống 42 tuổi này thì đó là một cú sốc lớn cho niềm kiêu hãnh của tuổi trẻ. Để rồi 2 tháng sau, tức ngày 4/6/1961, ông đã cùng với tổng bí thư  Liên Xô Khrushchev nhất trí để Lào trung lập. Tưởng chừng như thành trì của tự do chỉ còn lại Việt Nam Cộng Hòa, tổng thống Kenedy đã đánh canh bạc cuối cùng tại Nam Việt Nam. Với sự háo thắng và tự tin của tuổi trẻ, một lần nữa Kenedy đã thất bại với “chiến tranh đặc biệt” mà ông chủ trương bằng việc đảo chính tổng thống Ngô Đình Diệm vào năm 1963. Khoảng thời gian từ sau đợt đảo chính tháng 11 năm 1960 còn thêm 2 cuộc đảo chính nữa, 27/2/1962 và 1/11/1963. Lịch sử đã cho chúng ta biết được ai là người đằng sau giật dây.  Đảo chính 1962, ông Diệm cũng đã thoát nạn, nhưng đó là lần chót may mắn của ông.

Nhằm vào trưa  ngày lễ các Thánh 1/11/1963,  được Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ bật đèn xanh, hội đồng tướng lãnh đã quyết định đảo chính tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông Diệm và ông Nhu đã trốn thoát được khỏi dinh Gia Long và đi vào Chợ Lớn sau khi từ chối lời đề nghị tấn công vào Bộ tổng tham mưu của quân đội bảo vệ phủ Tổng thống.  Lý giải cho sự từ chối này vì ông không muốn sự đổ máu giữa quân đội. Hai anh em ông tới nhà Mã Tuyên và trải qua đêm trường tại đó. Sáng hôm sau, ngày 2 tháng 11, cũng là ngày lễ cầu cho các Linh Hồn trong đạo Công giáo, hai anh em ông tới nhà thờ Cha Tam và dự thánh lễ buổi sớm tại đây. Vị linh mục chính xứ đề nghị hai anh em ông trốn tại đây nhưng ông cũng từ chối. Sau khi tham dự thánh lễ, ông Diệm đã gọi tùy viên của mình là Đỗ Thọ để liên hệ với các tướng lãnh xin đầu hàng. Chúng ta không thể hiểu hay biết ông  Diệm đã nghĩ gì khi quyết định như thế. Có nhiều lý giải cho quyết định của ông. Ông muốn từ chức theo nghi lễ Quốc gia rồi ra ngoại quốc tiếp tục quá trình tu hành như đã dự định từ những năm trước. Có thể ông muốn bảo vệ người em trai của mình là ông Ngô Đình Nhu. Ông nghĩ dù sao thì những tướng lãnh mà ông đã gắn sao cho họ cũng nể vị ông mà tha chết cho anh em ông. Rồi thì Hội đồng tướng lãnh cũng đã có quyết định. Nhưng họ lại đem đến đón ông Diệm là xe thiết giáp, ông Nguyễn Văn Nhung được mật lệnh là giết ông Nhu và lỡ tay bắn chết ông Diệm vì ông Diệm muốn đỡ đạn cho em trai. Rồi ông Nhung cũng chết. Bí mật lịch sử vẫn bị chôn vùi chỉ vì không ai đủ can đảm thừa nhận ra lệnh ông Nhung giết anh em nhà ông Diệm. Cái chết của anh em ông Diệm là cái chết của chính nghĩa dân tộc.

 

Tư liệu tham khảo

  • KHI ĐỒNG MINH NHẢY VÀO, Nguyễn Tiến Hưng, Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh, 2016.
  • DÒNG HỌ NGÔ ĐÌNH- ƯỚC MƠ CHƯA ĐẠT, Nguyễn Văn Minh, Hoàng Nguyên xuất bản, 2004,  có thể đọc tại  trang www.isach.info
  • BÙI KIẾN THÀNH- NGƯỜI MỞ KHÓA LÃNG DU, Lê Xuân Khoa, THAIHABOOKS & NXB THẾ GIỚI, 2015.
  • Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, VŨ QUỐC THÚC, NGƯỜI VIỆT BOOKS, 2013.
  • LIÊN MINH SAI LẦM: Ngô Đình Diệm, Mỹ và Số Phận Nam Việt Nam, EDWARD MILLER, Minh Thu-Trọng Minh-Kim Thoa biên dịch và hiệu đính, NXB CHÍNH TRỊ QUỐC GIA- SỰ THẬT Hà Nội, 2016.
  • Hồi ký “Một cơn gió bụi” Lệ Thần TRẦN TRỌNG KIM, VIỆT BOOKS, 2010,  có thể tải tại trang tusachtiengviet.com
  • Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1956, tham khảo đầy đủ tại wikisource tiếng Việt; wikisource.org
  • Hồi ký “Sự thực có sức giải phóng” của Linh mục Athony Trần Văn Kiệm, Trịnh Kim Dung biên soạn, Foundation Trần Văn Kiệm ấn hành 2013.

Vô Kỵ

nguồn ảnh: nghiencuuquocte.org

 

Comments

comments

Powered by Facebook Comments

Related posts